Truyền thuyết về các danh trà Trung Hoa

23/12/2016   |   Đăng bởi Admin

Trong ba loại đồ uống phổ biến nhất thế giới: trà, cà phê và ca cao, trà được nhiều người ưa chuộng nhất. Trung Hoa là xứ sở của trà. Trà, cùng với tơ lụa, gốm sứ Trung Quốc, nổi tiếng thế giới cách đây hơn nghìn năm. Hầu hết cây trà ở những quốc gia khác đều có nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp từ xứ sở này

Cách gọi là Trà (lá trà) ở nhiều nước bắt nguồn từ phát âm ''cha'' Trung Quốc. Cách viết chữ ''trà'' Nhật Bản cũng tương tự chữ ''trà'' Trung Quốc, phát âm chỉ khác đôi chútNgười Nga gọi là "cha'i", (phát âm giống "chaye" - lá trà của cư dân phía bắc Trung Quốc). Người Anh có từ "tea", phát âm bản sao của người vùng Hạ Môn. 

Trà trở thành thứ thiết yếu trong đời sống thường nhật của người Trung Quốc từ xa xưa. Mùa hè, hương trà như xua tan không khí nóng nực và mang lại cảm giác sảng khoái, mát mẻ. Còn mùa Đông, những tách trà ấm áp giúp con người gần gũi nhau hơn. Người Trung Quốc có câu nói thế này: "Thà ba ngày thiếu muối còn hơn một ngày vắng trà''. Trà Trung Hoa có rất nhiều loại, mỗi loại đều gắn liền với các truyền thuyết, với các câu chuyện độc đáo riêng biệt.

1.  Dũng Khê hỏa thanh Trà  涌溪火青茶

Kinh huyện 經縣 thuộc tỉnh An Huy安徽 là nơi sản sinh ra các loại trà nổi tiếng, trong số đó trà Dũng Khê hỏa thanh涌溪火青 là loại nổi tiếng nhất. Căn cứ vào các tài liệu khảo chứng thì loại trà này bắt nguồn từ đời Minh 明代. Về lai lịch của nó có một truyền thuyết như sau: “Vào một năm nọ, ở đất Dũng Khê 涌溪 có một vị tú tài 秀才tên là Lưu Kim 劉金, ngoại hiệu là La Hán tiên sinh 羅漢先生. Mùa xuân năm đó, tại núi Loan Đầu 彎頭山 thuộc đất Dũng Khê đã phát hiện ra một cây “Kim ngân trà 金銀茶”. Cây trà này sinh trà này sinh trưởng rất đặc biệt, lá của nó một nửa là màu trắng, một nửa là màu vàng, dân bản xứ gọi nó là “Bạch trà 白茶”. La Hán tiên sinh cảm thấy kì lạ, bèn hái lá non của nó đem về nhà và bỏ vào nồi sao khô bằng lửa nóng, chế thành một loại trà, ngoại hình đẹp đẽ, trong xanh như ngọc, chất thơm như hoa, mùi vị ngọt ngào, do đó nó có tên là “Hỏa thanh 火青”. Từ đó về sau, trà Dũng Khê hỏa thanh trở thành loại trà tiến cung nổi tiếng toàn quốc. Theo sự ghi chép cổ thư, thời kì sản lượng trà được sản xuất cao nhất là thời vua Hàm Phong 咸豐 nhà Thanh 清代 (1851 – 1861).

2. Tây Sơn Trà  西山茶

Trà Tây Sơn 西山茶 được sinh ra ở núi Tây Sơn 西山, thuộc vùng phụ cận huyện Quế Bình 桂平, tỉnh Quảng Tây 廣西. Theo truyền thuyết kể lại rằng, ở bên cạnh Kỳ Bàn Thạch 棋盤石 núi Tây Sơn có trồng rất nhiều trà. Một hôm, ở đó xuất hiện hai vị tiên đến “Kì Bàn Thạch 棋盤石” để đánh cờ. Họ hái lá trà ở bên cạnh Kỳ Bàn Thạch và dung nước suối Nhũ Tuyền 乳泉 nấu sôi pha trà uống. Từ đó về sau, nước suối đó cũng thay đổi mùi vị trở nên thơm ngon và hợp khẩu vị hơn.

3. Thiết Quan Âm Trà 鐵觀音茶

Trà Thiết Quan Âm 鐵觀音茶 ở vùng An Khê 安溪 tỉnh Phúc Kiến 福建 chất lượng rất khác thường. Theo truyền thuyết, vào thời Càn Long 乾隆 nhà Thanh 清代, có một người ở thôn Tùng Lâm Đầu 松林頭村 thuộc huyện An Khê tên là Ngụy Ẩm 魏飲 rất sùng đạo Phật, vào mỗi buổi sáng đều lấy một chén trà xanh để cúng dường trước tượng Quan Âm đại sĩ 觀音大士. Một hôm, ông ta nhặt củi trên núi, khi đang đào một hốc đá thì phát hiện ra một cây trà lạ, dưới ánh sáng ban mai lá trà lấp lánh phát sáng, bèn đào nó đem về trồng và chăm sóc cẩn thận. Hái lá của nó chế thành Ô Long Trà 烏龍茶, mùi hương đặc biệt kì lạ, lá của nó so với các loại trà khác nặng hơn rất nhiều, người ta gọi nó là “nặng như sắt” (trọng như thiết 重如鐵), do màu của lá trà có màu như sắt, mùi thơm, vị ngọt nên mới đổi tên thành “Thiết Quan Âm 鐵觀音”.

4.  Tô Châu Bích Loa Trà 蘇州碧螺春茶:

Trà Bích Loa Xuân 碧螺春茶 được sinh ra ở núi Động Đình 洞庭山, thuộc vùng Thái Hồ 太湖, huyện Ngô 吳縣, tỉnh Giang Tô 江蘇. Các loại trà được sản xuất ở Động Đình vốn có lịch sử lâu đời và rất nổi tiếng. Theo sự ghi chép của Thanh Gia Lục 清嘉錄, có một câu chuyện như sau: Phía đông núi Động Đình có một ngọn núi tên là Bích Loa Phong 碧螺峰, trên vách đá có mấy cây trà hoang, hằng năm người dân ở vùng này hái nó về làm thức uống. Có một năm, mùa hái trà đã đến, mọi người thấy nó phát triển tươi tốt kì lạ. Họ liền cùng nhau hái về, nhưng giỏ trúc mang theo đựng không đủ, bèn bỏ vào trong lồng ngực. Những lá trà tươi vừa đặt vào lồng ngực liền hấp thụ khí nóng và đột nhiên tỏa ra mùi hương lạ, mọi người liền đồng thanh la lớn: “Hách sát nhân hương 嚇煞人香” (mùi hương giết người). Từ đó về sau, loại trà này là “Hách sát nhân hương”. Trong số những người đi hái trà đó, có một người tên là Chu Chánh Nguyên 朱正元, rất tinh thông phương pháp điều chế loại trà này. Một năm nọ, hoàng đế Khang Hy 康熙皇帝 nhà Thanh đến du lãm ở vùng Thái Hồ, Tuần phủ Tống Lao 宋犖巡撫 dâng trà “Hách sát nhân hương”, sau khi Khang Hy uống xong thấy hương vị đậm đà tinh khiết nhưng tên thì không trang nhã nên mới đặt lại tên cho nó là Bích Loa Xuân Trà.

5. Đại Hồng Bào Trà 大紅袍茶

Trà Đại Hồng Bào 大紅袍茶 được sinh ra ở phía trên mặt dốc núi cao của ngọn Cửu Long Khoa 九龍窠 thuộc dãy Thiên Tâm Nham 天心岩 của núi Vũ Di 武夷山 ở tỉnh Phúc Kiến 福建. Theo truyền thuyết nước đây, có một vị quan huyện Sùng An 崇安, bị bệnh lâu ngày không khỏi. Hòa thượng ở Thiên Tâm tự 天心寺 lấy trà này dâng lên, uống theo liều lượng nhất định bệnh tật liền khỏi. Vị huyện quan này đích thân đến chỗ vách núi mọc cây trà lấy áo Đại Hồng bào 大紅袍 (áo bào lớn màu đỏ) đang mặc trên người khoác lên trên cây, đốt hương bái lạy. Tên Đại Hồng Bào do đó mà có vậy.

6. Huệ Minh Trà 惠明茶

Vùng thượng du Âu Giang 甌江 của tỉnh Chiết Giang 浙江 có một tộc người Xá 舍族 cư trú tại Cảnh Ninh Sơn 景寧山. Đây là khu vực mà loại danh trà nổi tiếng Huệ Minh 惠明được sản xuất và nổi tiếng khắp nơi. Nó có tên đó vì trà Huệ Minh được trồng ở vùng phụ cận Huệ Minh Tự 惠明 寺 thuộc núi Xích Mộc 赤木山, huyện Vân Hòa 雲和. Huệ Minh Tự là nơi sản xuất trà có lịch sử lâu đời. Tương truyền, vào những năm Đại Trung 大中 triều Đường 唐朝, có một cụ già của bộ tộc Xá tên là Lôi Thái Tổ 雷太祖, mang 4 người con trai từ Quảng Đông 廣東 chạy nạn vùng Giang Tây 江西, sau đó lại từ Giang Tây phiêu dạt đến Chiết Giang. Trên đường từ Giang Tây đến Triết Giang cha con họ đã gặp một vị hòa thượng. Bọn họ đối đãi với nhau rất thịnh tình và cùng nhau đi đến Triết Giang. Sau khi chia tay với vị hòa thượng đó, Lôi Thái Tổ bèn dựng một lều cỏ tại vùng Ô Lý 塢里 thuộc Đại Xích 大赤, ở huyện Cảnh Ninh 景寧. Gia đình họ dưạ vào mảnh đất khai hoang mà trồng các loài cây lương thực để tạm sống qua ngày. Nhưng sau đó, bọn cường hào ác bá ở địa phương cho rằng 5 cha con họ Lôi đã xâm chiếm đất đai của họ, liền duổi năm cha con họ xuống núi. Gia đình họ Lôi phải tiếp tục cuộc sống lang thang nay đây mai đó. Sự đời thật là khéo, họ gặp lại vị hòa thượng trước đây tại trấn Hạc Khê 鶴溪鎮, huyện Cảnh Ninh. Vị hòa thượng này vốn là tổ sư khai sơn chùa Huệ Minh ở núi Xích Mộc. Huệ Minh Tự có rừng rậm bao quanh, không một bóng người vãng lai. Nhà sư đó liền bảo với 5 cha con họ Lôi lưu lại chùa khai khẩn đất hoang mà trồng trà. Tên gọi trà Huệ Minh từ truyền thuyết này mà ra.

7. Cửu Khúc Hồng Mai Trà 九曲紅梅茶

Cửu Khúc Hông Mai 九曲紅梅 gọi tắt là Cửu Khúc Hồng 九曲紅, sản sinh ở vùng Giang Bạn 江畔 thuộc Tiền Đường 錢唐, tức là ở Hồ Phụ 湖埠 thuộc khu vực phía Tây Nam của Hàng Châu 杭州. Cửu Khúc Hồng Mai còn gọi là Cửu Khúc Ô Long 九曲烏龍. Tên gọi này rất thi vị và bắt nguồn từ một truyền thuyết của địa phương đó, đồng thời cũng phản ánh được phẩm chất đặc sắc của lá trà này. Theo truyền thuyết, từ xưa, trong một hốc núi của vùng trồng Cửu Khúc Hồng Mai có một đôi vợ chồng già cư trú, gia cảnh rất nghèo. Khi đã về già, họ mới sinh được một đứa con trai. Hai người rất vui mừng, coi nó như báu vật và đặt tên là A Long 阿龍. A Long lớn lên rất đẹp trai, mi thanh mục tú, vừa thông minh, vừa lanh lợi, từ nhỏ rất thích nước. Một ngày kia, A Long đang chơi bên bờ suối bỗng thấy hai con tôm đang tranh nhau viên tiểu châu rất sáng. Nó cảm thấy kỳ lạ bèn nhặt viên ngọc châu ấy lên và ngậm vào trong miệng vui vẻ chạy về nhà. Trên đường vô ý nuốt viên ngọc châu ấy vào bụng. Về đến nhà, toàn thân phát ngứa, mẹ nó bèn tắm cho nó, A Long vừa bước vào nước liền biến thành con rồng đen (Ô Long 烏龍). Lúc đó trời đất bỗng nhiên tối sầm, sấm chớp nổ vang, gió mưa ào ào, con Ô Long nhe răng múa vuốt, bay lên không, ra khỏi phòng và chui vào khe suối, xuyên qua lòng núi, phá vỡ hốc núi rồi bay đi. Hai ông bà thấy con biến hình thành Ô Long vừa thất vọng, vừa đau buồn khóc rống lên và đuổi theo. Con Ô Long ấy dường như cũng lưu luyến mẹ cha không muốn rời ra, bay được một đoạn thì quay đầu lại, liên tiếp 9 lần như vậy. Những nơi mà con Ô Long ấy dừng lại trở thành những khe suối gọi là: “Cửu khúc Thập bát loan 九曲十八彎”. Sau khi Ô Long bay đi hai ông bà càng thêm đau thương, ngày ngày trông mong, đêm đêm khóc lóc thở than. Con Ô Long cũng thương nhớ cha mẹ. Hằng năm, sau ngày Thanh Minh 清明, nó trở về quê cũ một lần, lúc đến thì bên khe suối mưa rơi gió thổi, sóng nổi cuồn cuộn. Khe suối Cửu khúc trong truyền thuyết và khu vực trong hốc đá ấy rất thích nghi với việc trồng trà, dần dà ở đây đã chế thành một loại trà có hình dáng uốn khúc như rồng, mọi người thường gọi là: “Cửu Khúc Ô Long 九曲烏龍”. Loại trà Cửu Khúc Ô Long này, ngoại hình uốn khúc như móc bạc, lá trà phủ đầy lông, lông có sắc màu vàng, khi pha với nước sôi thì màu sắc lại đỏ tươi như Hồng Mai 紅梅. Vì thế nó còn được gọi là Cửu khúc Hồng Mai.

8. Nhạn Đãng Mao Phong Trà 雁蕩毛峰茶

Nhạn Đãng Mao Phong 雁蕩毛峰 lúc đầu gọi là “Hầu trà 猴茶” (trà khỉ), ý nghĩa của tên gọi Hầu trà là do loại trà ấy được loài khỉ trèo lên những dốc núi cao hái xuống. Công bằng mà nói, những lá trà ấy chỉ mọc ở những nơi dốc núi cheo leo mà con người không thể leo lên hái được, tính chất của loại trà này cũng rất khác thường. Núi Nhạn Đãng 雁蕩山 giống như cái trụ, đỉnh núi thì giống như một cái dùi nhưng đó lại là nơi sinh trưởng tốt của trà. Trong Thanh Bái Loại Sao 清捭類鈔 có chép một truyền thuyết rất lý thú, như sau: Nhạn Đãng Nham 雁蕩岩 ở Ôn Châu 溫州 có loại Hầu trà, mỗi khi đến cuối xuân thì có một loài khỉ leo lên núi cao hái lá trà theo lời của các vị tăng sĩ trên núi. Bởi vì họ biết loài khỉ này không có gì để ăn, bèn lấy một túi gạo nhỏ buộc vào thân khỉ, những lá trà mà chúng hái và đưa cho các vị tăng  là tỏ lòng báo đáp vậy. Đây là truyền thuyết về loại trà Nhạn Đãng Mao Phong, nguyên do xuất xứ của loại trà này còn có thần thoại về “Rồng già ban trà” (Lão Long tứ trà 老龍賜茶). Tương truyền, vị tổ khai sơn là thiền sư Nặc Cự 諾詎禪師 có cư trú ở Long Thu 龍 鍬 (thuộc núi Nhạn Đãng, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc ). Một ngày nọ bỗng gặp một vị lão nhân râu tóc bạc trắng nói với nhà sư rằng: “Cảm tạ ân đức của thiền sư đã giúp đỡ tôi có thể sống yên ổn”. Sư Nặc Cự bèn hỏi: “ thưa, Ân đức gì ạ ?”, lão nhân nói: “Đại sư cư trú ở Long Thu, mỗi ngày thường dùng nước nhưng chỉ đổ xuống đất mà không đổ xuống khe suối, nên đã giữ được sự tinh khiết cho con suối. Để báo đáp ân đức đó, tôi tặng một cây trà cho nhà sư dùng cả đời. Sư Nặc Cự lại hỏi: “ Xin hỏi, lão nhân tôn tính là gì? Ở đâu, để ngày sau còn có thể tái ngộ”. Cụ già trả lời: “Xa thì ở chân trời, gần thì ở ngay trước mắt, nếu muốn gặp mặt nhau, thì vào buổi sớm mai vậy”. Nặc Cự liền tỉnh giấc, hóa ra là một giấc mộng. Sáng hôm sau, vừa bước ra khỏi cửa, đứng trên dốc Long Thu nhìn ra bốn hướng và thấy phía trên Long Thu, đầu rồng như tuôn nước, phía xa xa đuôi rồng như ẩn hiện thấp thoáng mới hay rằng ông lão trong mộng là do Lão Long 老龍 hóa thành. Ông ta liền quay vào nhà thấy trong sân có một cây trà cành lá tươi tốt. Từ đó về sau, theo lời ông lão nói, cây trà tự nó phát triển quanh năm uống không hết.

9. Ô Long Trà 烏龍茶

Theo truyền thuyết, từ xa xưa, ở một vùng núi sâu thuộc An Khê 安溪, tỉnh Phúc Kiến 福建, có một người thợ săn tên là Hồ Lương 胡良. Một hôm, Hồ Lương đi săn trở về, mặt trời nắng gắt, ông ta sợ thịt săn bị ôi thiu bèn thuận tay hái một số lá trên một cây lạ bên đường. Sau khi về đến nhà, ông phát hiện ra trong nhà không giống như hôm qua, khắp nơi trong nhà mùi hương lan tỏa khắp, bay cả vào trong mũi ông ta. Thế là ông ta đi tìm kiếm khắp nơi, mới phát hiện ra rằng mùi hương ấy là từ những lá cây nọ. Ông ấy dùng những lá cây đó nấu nước uống, tinh thần liền trở nên sảng khoái. Sau đó, ông ta lập tức trở lại núi, đến cây lạ mà ông ta đã hái lúc trước hái một giỏ đầy lá đem về nhà. Sau đun lên rồi uống, phát hiện mùi vị của nó không giống như trước, chỉ có vị đắng mà thôi. Ông để tâm tìm hiểu, cuối cùng mới phát hiện ra rằng lá của cây này cần phải gia công sao khô, sau đó pha nước uống mới có mùi hương. Ở địa phương sản sinh ra loại trà này, âm “Hồ Lương 胡良” (Hú liáng) lại được phát âm tương tự như “Ô Long 烏龍” (wù lóng). Vì người dân ở đây muốn kỉ niệm Hồ Lương nên đặt tên trà là Ô Long 烏龍茶.

10. Quân Sơn Ngân Châm Trà 君山銀針茶

Sau thời Ngũ Đại 五代時期, Đường Minh Tông 唐明宗 Lý Tự Nguyên 李嗣源 mới lên ngôi. Một hôm khi đang thiết triều nghị sự, thái giám pha trà dâng lên cho vua, nước sôi vừa rót vào ly, lập tức thấy một làn khói trắng bay lên trong không trung. Giữa bầu trời bỗng xuất hiện một con hạc trắng (Bạch Hạc 白鶴) hướng về phía vua Minh Tông gật đầu ba cái rồi vỗ cánh bay đi. Trà ở trong ly cũng bắt đầu tung bay lên như măng tre vào mùa xuân chồi lên khỏi mặt đất, không lâu sau lại từ từ sà xuống giống như là tuyết rơi. Vua Minh Tông lấy làm kì lạ, quần thần đứng hầu liền phụ họa và tâu rằng: “Đây là Hoàng Linh Mao 黃翎毛 (tức Ngân Châm Trà 銀針茶) được pha bằng nước lấy từ suối Bạch Hạc 白鶴泉 (tức giếng Liễu Nghị 柳毅井). Bạch Hạc gật đầu bay lên trời xanh là biểu thị ý nghĩa “vạn tuế 万歲”, hồng phúc ngang trời (Hồng phúc tề thiên 洪福齊天). Cánh chim đựng lên, biểu thị sự tôn kính đối với vạn tuế gia. Lông chim rơi xuống là biểu thị sự thần phục đối với hoàng thượng. Vua Minh Tông sau khi nghe xong lấy làm vui lòng, liền hạ chỉ, từ đây trở về sau loại trà này được xếp vào loại thượng trà tiến cung.

     Võ Minh Hải (dịch chú)  

Nguồn: “Trà dữ Trung Hoa văn hóa 茶与中華文化” của Vương Quốc An 王國安– Yếu Anh 要英, do Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã 漢語大詞典出版社 xuất bản, Bắc Kinh 北京 2000.       

Viết bình luận